Giáo trình luyện tập dịch tiếng Trung Bài 7

Đánh giá post

Giáo trình luyện tập dịch tiếng Trung hay nhất của Thầy Vũ

Giáo trình luyện tập dịch tiếng Trung Bài 7 là tài liệu học tiếng Trung online rất uy tín của Thầy Vũ. Chúng tôi vừa cập nhập bài giảng mới nhất của Thầy Vũ trên website luyenthihsk.com để làm tài liệu học tiếng Trung miễn phí cho các bạn thành viên diễn đàn Dân tiếng Trung và diễn đàn học tiếng Trung. Đây là kênh chia sẻ tài nguyên học tiếng Trung online uy tín và chất lượng của Trung tâm giảng dạy tiếng Trung giao tiếp ChineMaster Hà Nội – TP HCM.

Chuyên mục Luyện dịch Tiếng Trung tổng hợp lại toàn bộ những bài giảng mà thầy Vũ đã đăng tải trên kênh Luyện thi HSK,các bạn nhớ vào xem nhé.

Chuyên mục luyện dịch tiếng Trung ứng dụng

Các lớp học tiếng Trung giao tiếp mới nhất sắp tới khai giảng tại cả 2 cơ sở của Trung tâm tiếng Trung ChineMaster là Hà Nội và TP HCM. Các bạn xem thông báo mới nhất các lớp sắp khai giảng tại link bên dưới.

Lớp học tiếng Trung giao tiếp tại Hà Nội ChineMaster

Lớp học tiếng Trung giao tiếp tại TP HCM ChineMaster

Các bạn học viên ở quá xa Trung tâm tiếng Trung ChineMaster thì có thể học tiếng Trung giao tiếp online cùng Thầy Vũ qua hình thức học tiếng Trung trực tuyến Skype. Các bạn đăng ký khóa học tiếng Trung online qua Skype tại link bên dưới nhé.

Đăng ký học tiếng Trung online qua Skype

Bạn nào muốn tải bộ gõ tiếng Trung sogou về hay chưa biết cách sử dụng bộ gõ tiếng Trung Sogou pinyin thì có thể tham khảo link dưới đây do Thạc sĩ Nguyễn Minh Vũ hướng dẫn chi tiết nhé.

Tải bộ gõ tiếng Trung sogou pinyin bản mới nhất

Tiếp theo là khóa học nhập hàng Trung Quốc tại taobao tmall do Thạc sĩ Nguyễn Minh Vũ soạn thảo và đăng trên kênh Luyện thi HSK,các bạn chú ý theo dõi và lưu bài về học dần để củng cố được nhiều kiến thức hơn nhé.

Khóa học nhập hàng Trung Quốc tận gốc taobao tmall 1688

Tổng hợp Giáo trình luyện tập dịch tiếng Trung Bài 7

Nội dung chi tiết bài học hôm nay ngày 3/1/2021 Giáo trình luyện tập dịch tiếng Trung Bài 7
河内编年史:当和平暴露战争的恐怖时

托马斯·比哈特(Thomas Billhardt)于50多年前在越南战争最激烈的时期首次访问首都后,一直返回河内以记述其变化。
他选择不使用暴力图片来做这件事,而是通过捕捉正常的日常生活来强调被破坏的地方。

自从今年10月以来,这位83岁的德国摄影师一直在接到来自越南的大量电话和信息,无法参加正在进行的展览,展出他在越战期间在河内拍摄的130张照片。

他对德国柏林的VnExpress International表示:“这次大流行使我无法进入河内,我感到很难过,但这座城市始终在我心中。”

Billhardt的工作在60年代末和70年代初越南战争达到顶峰时赢得了全世界的认可。他在战争中的日常生活照片令人印象深刻。

Billhardt小时候喜欢摄影,由摄影师母亲抚养长大。他于1963年毕业于莱比锡图形与书籍设计大学。四年后,他在12次前往河内的旅行中第一次旅行时,他从未想象过会诞生一个持续超过五十年的协会。

1967年,他与一群来自德国民主共和国(GDR)的电影制片人一起来到首都,拍摄了一部纪录片,内容是关于在声名狼藉的“滚动雷电”行动中在河内被俘的美国士兵的纪录片。越南

他记得,在市区最豪华的大都会饭店中,“饭店里的老鼠和蠕虫比老鼠还多。”

看到战争的毁灭性,炸弹坑,被毁的建筑物以及空袭和警报声呼唤人们躲藏起来,他被感动地用“摄影纪事”讲述河内及其人民的故事。

“看到美国人摧毁河内,我感到很生气。我想向世界展示我在越南拍摄的照片,以便他们确切地知道发生了什么。然后他们会像我一样理解和爱护越南。”

他决定,他的战时摄影将专注于人们的日常生活,忙于工作并准备战斗的人们。

倾盆大雨下骑自行车的人群的照片,上户外绘画课的赤脚孩子们的笑脸,观看足球比赛时充满欢呼和笑声的体育场以及许多这样的爱与关怀场面形成鲜明对比并抵制了极端暴力战争。

比尔哈特回忆说:“当他们遭受激烈战争时,看着越南人的眼神,我感到与他们有联系。”他补充说,勇敢的越南人对他是一个教训。

“托马斯的照片举起了世界的一面镜子,同时表达了希望。它们讲述了世界上的社会不平等,贫困,痛苦,战争以及生活在其中的人们的生活和欢笑。 ”,河内歌德学院院长Wilfried Eckstein说。

冰柠檬水

比尔哈特说:“我对越南的热爱不关房屋或道路,而是关乎越南人民。”

这份爱促使他于1999年返回,寻找照片中描绘的那些照片,并查看他们在战后的生活。他在还剑区一个繁忙的地方-东金·恩贾·苏克广场(Dong Kinh Nghia Thuc Square)举办了一次公开展览,该展览经常举办各种庆祝活动。

他说:“我想在河内市中心举办一次摄影展,以便能够观察,记住并设法找到人们。”

他的主要动机是寻找1968年拍摄的年轻女士兵Hong Ly,当时她与一个旅一起在中部省份Quang Binh修复被毁的桥梁。

“当我问她想要什么时,她告诉我,她渴望战争结束,因此她可以返回河内,与家人见面,去她最喜欢的地方,喝一杯冰柠檬水。”

搜索Hong Ly导致与他的照片中的其他人或其家人相遇。

这些遭遇中最感人的是与一个1972年10月生下的小男孩的家人在一起。

当时,比尔哈特(Billhardt)当时住在河内中部的一家旅馆,当时有一枚火箭弹爆炸,炸死了包括小男孩在内的许多当地人。

当他的家人将他的遗体送到医院时,比尔哈特跟着他们,并为祖母为孙子哭泣的照片合影。

“我在拍摄这张照片时哭了。我告诉她,她的男孩不会白白死去,我会在全世界宣传它,这样人们才能确切地知道越南的战争正在发生什么。”

Billhardt信守诺言,并于1974年得到了德国著名杂志的发行。住在德国的越南人看到了这张照片,并将照片发送给了河内男孩的一家,后者没有其他的小照片。

照片拍摄后的第二十七年,比尔哈特找到了男孩的父亲,并参观了他在老城区的房子,并在那里看到了他的照片。

他还找到了嫁给越南男子的洪丽(Hong Ly),并为他寻找了一部纪录片。

“看错电影”

Billhardt说,他渴望在Covid-19危机结束后返回越南。

他说,他很高兴看到该国近几十年来的发展。

比尔哈特说:“由于河内的事态发展,我以为自己看错了电影,或者跌入了另一个世界。”比尔哈特回忆起他24年后于1999年首次返回越南的经历。

他看着河内五颜六色的路灯,快餐店和熙熙bus的道路,想知道一个国家如何克服过去并如此迅速地发展。

“唯一让我感到难过的是河内的旧城区不像以前那样美丽。”

在2019年,比尔哈特(Billhardt)开始组织一次越南之旅,以参观他在战争期间去过的地方。

但是报名参加旅行团的人数如此之多,以至于他不得不在将来计划更多的旅行团以满足需求。

“在德国,如果您谈论越南,就谈论托马斯·比哈特(Thomas Billhardt),”德国前越南法律总顾问特兰·恩格克·奎恩(Tran Ngoc Quyen)说。

即使比尔哈德(Billhardt)年龄已到,他仍计划继续为和平的越南拍摄更多照片,以向世界展示越南人民多么友好,勤劳和美丽。

“他们都是英雄,是那些活着的人和那些在战争中丧生的人,是那些继承了老一代人赋予他们推动这个国家前进的道路的人。”

Chú thích phiên âm tiếng Trung Giáo trình luyện tập dịch tiếng Trung Bài 7
Hénèi biān niánshǐ: Dāng hépíng bàolù zhànzhēng de kǒngbù shí

tuōmǎsī·bǐ hā tè (Thomas Billhardt) yú 50 duōnián qián zài yuènán zhànzhēng zuì jīliè de shíqí shǒucì fǎngwèn shǒudū hòu, yīzhí fǎnhuí hénèi yǐ jìshù qí biànhuà.
Tā xuǎn zhái bu shǐyòng bàolì túpiàn lái zuò zhè jiàn shì, ér shì tōngguò bǔzhuō zhèngcháng de rìcháng shēnghuó lái qiángdiào bèi pòhuài dì dìfāng.

Zìcóng jīnnián 10 yuè yǐlái, zhè wèi 83 suì de déguó shèyǐng shī yīzhí zài jiē dào láizì yuènán de dàliàng diànhuà hé xìnxī, wúfǎ cānjiā zhèngzài jìnxíng de zhǎnlǎn, zhǎn chū tā zài yuèzhàn qíjiān zài hénèi pāishè de 130 zhāng zhàopiàn.

Tā duì déguó bólín de VnExpress International biǎoshì:“Zhè cì dà liúxíng shǐ wǒ wúfǎ jìnrù hénèi, wǒ gǎndào hěn nánguò, dàn zhè zuò chéngshì shǐzhōng zài wǒ xīnzhōng.”

Billhardt de gōngzuò zài 60 niándài mò hé 70 niándài chū yuènán zhànzhēng dádào dǐngfēng shí yíngdéle quán shìjiè de rènkě. Tā zài zhànzhēng zhōng de rìcháng shēnghuó zhàopiàn lìng rén yìnxiàng shēnkè.

Billhardt xiǎoshíhòu xǐhuān shèyǐng, yóu shèyǐng shī mǔqīn fǔyǎng zhǎng dà. Tā yú 1963 nián bìyè yú láibǐxī túxíng yǔ shūjí shèjì dàxué. Sì nián hòu, tā zài 12 cì qiánwǎng hénèi de lǚxíng zhōng dì yīcì lǚxíng shí, tā cóng wèi xiǎngxiàngguò huì dànshēng yīgè chíxù chāoguò wǔshí nián de xiéhuì.

1967 Nián, tā yǔ yīqún láizì déguó mínzhǔ gònghéguó (GDR) de diànyǐng zhì piàn rén yīqǐlái dào shǒudū, pāishèle yī bù jìlùpiàn, nèiróng shì guānyú zài shēngmíng lángjí de “gǔndòng léidiàn” xíngdòng zhōng zài hénèi bèi fú dì měiguó shìbīng de jìlùpiàn. Yuènán

tā jìdé, zài shì qū zuì háohuá de dà dūhuì fàndiàn zhōng,“fàndiàn lǐ de lǎoshǔ hé rúchóng bǐ lǎoshǔ hái duō.”

Kàn dào zhànzhēng de huǐmiè xìng, zhàdàn kēng, bèi huǐ de jiànzhú wù yǐjí kōngxí hé jǐngbào shēng hūhuàn rénmen duǒcáng qǐlái, tā bèi gǎndòng dì yòng “shèyǐng jìshì” jiǎngshù hénèi jí qí rénmín de gùshì.

“Kàn dào měiguó rén cuīhuǐ hénèi, wǒ gǎndào hěn shēngqì. Wǒ xiǎng xiàng shìjiè zhǎnshì wǒ zài yuènán pāishè de zhàopiàn, yǐbiàn tāmen quèqiè dì zhīdào fāshēngle shénme. Ránhòu tāmen huì xiàng wǒ yīyàng lǐjiě hé àihù yuènán.”

Tā juédìng, tā de zhàn shí shèyǐng jiāng zhuānzhù yú rénmen de rìcháng shēnghuó, mángyú gōngzuò bìng zhǔnbèi zhàndòu de rénmen.

Qīngpén dàyǔ xià qí zìxíngchē de rénqún de zhàopiàn, shàng hùwài huìhuà kè de chìjiǎo háizimen de xiàoliǎn, guānkàn zúqiú bǐsài shí chōngmǎn huānhū hé xiào shēng de tǐyùchǎng yǐjí xǔduō zhèyàng de ài yǔ guānhuái chǎngmiàn xíngchéng xiānmíng duìbǐ bìng dǐzhìle jíduān bàolì zhànzhēng.

Bǐ’ěr hā tè huíyì shuō:“Dāng tāmen zāoshòu jīliè zhànzhēng shí, kànzhe yuènán rén de yǎnshén, wǒ gǎndào yǔ tāmen yǒu liánxì.” Tā bǔchōng shuō, yǒnggǎn de yuènán rén duì tā shì yīgè jiàoxùn.

“Tuōmǎsī de zhàopiàn jǔ qǐle shìjiè de yīmiàn jìngzi, tóngshí biǎodále xīwàng. Tāmen jiǎngshùle shìjiè shàng de shèhuì bù píngděng, pínkùn, tòngkǔ, zhànzhēng yǐjí shēnghuó zài qízhōng de rénmen de shēnghuó hé huānxiào. ”, Hénèi gēdé xuéyuàn yuàn zhǎng Wilfried Eckstein shuō.

Bīng níngméng shuǐ

bǐ’ěr hā tè shuō:“Wǒ duì yuènán de rè’ài bù guān fángwū huò dàolù, ér shì guānhū yuènán rénmín.”

Zhè fèn ài cùshǐ tā yú 1999 nián fǎnhuí, xúnzhǎo zhàopiàn zhōng miáohuì dì nàxiē zhàopiàn, bìng chákàn tāmen zài zhàn hòu de shēnghuó. Tā zài hái jiàn qū yīgè fánmáng dì dìfāng-dōng jīn·ēn jiǎ·sū kè guǎngchǎng (Dong Kinh Nghia Thuc Square) jǔbànle yīcì gōngkāi zhǎnlǎn, gāi zhǎnlǎn jīngcháng jǔbàn gè zhǒng qìngzhù huódòng.

Tā shuō:“Wǒ xiǎng zài hénèi shì zhōngxīn jǔbàn yī cì shèyǐng zhǎn, yǐbiàn nénggòu guānchá, jì zhù bìng shèfǎ zhǎodào rénmen.”

Tā de zhǔyào dòngjī shì xúnzhǎo 1968 nián pāishè de niánqīng nǚ shìbīng Hong Ly, dāngshí tā yǔ yīgè lǚ yīqǐ zài zhōngbù shěngfèn Quang Binh xiūfù bèi huǐ de qiáoliáng.

“Dāng wǒ wèn tā xiǎng yào shénme shí, tā gàosù wǒ, tā kěwàng zhànzhēng jiéshù, yīncǐ tā kěyǐ fǎnhuí hénèi, yǔ jiārén jiànmiàn, qù tā zuì xǐhuān dì dìfāng, hè yībēi bīng níngméng shuǐ.”

Sōusuǒ Hong Ly dǎozhì yǔ tā de zhàopiàn zhōng de qítā rén huò qí jiārén xiāngyù.

Zhèxiē zāoyù zhōng zuì gǎnrén de shì yǔ yīgè 1972 nián 10 yuè shēng xià de xiǎo nánhái de jiārén zài yī qǐ.

Dāngshí, bǐ’ěr hā tè (Billhardt) dāngshí zhù zài hénèi zhōngbù de yījiā lǚguǎn, dāngshí yǒuyī méi huǒjiàn dàn bàozhà, zhà sǐle bāokuò xiǎo nánhái zài nèi de xǔduō dāngdì rén.

Dāng tā de jiārén jiāng tā de yítǐ sòng dào yīyuàn shí, bǐ’ěr hā tè gēnzhe tāmen, bìng wèi zǔmǔ wèi sūnzi kūqì de zhàopiàn héyǐng.

“Wǒ zài pāishè zhè zhāng zhàopiàn shí kūle. Wǒ gàosù tā, tā de nánhái bù huì báibái sǐqù, wǒ huì zài quán shìjiè xuānchuán tā, zhèyàng rénmen cáinéng quèqiè dì zhīdào yuènán de zhànzhēng zhèngzài fāshēng shénme.”

Billhardt xìnshǒu nuòyán, bìng yú 1974 nián dédàole déguó zhùmíng zázhì de fǎ xíng. Zhù zài déguó de yuènán rén kàn dàole zhè zhāng zhàopiàn, bìng jiāng zhàopiàn fāsòng gěile hénèi nánhái de yījiā, hòu zhě méiyǒu qítā de xiǎo zhàopiàn.

Zhàopiàn pāishè hòu de dì èrshíqī nián, bǐ’ěr hā tè zhǎodàole nánhái de fùqīn, bìng cānguānle tā zài lǎo chéngqū de fángzi, bìng zài nàlǐ kàn dàole tā de zhàopiàn.

Tā hái zhǎodàole jià gěi yuènán nánzǐ de hóng lì (Hong Ly), bìng wèi tā xúnzhǎole yī bù jìlùpiàn.

“Kàn cuò diànyǐng”

Billhardt shuō, tā kěwàng zài Covid-19 wéijī jiéshù hòu fǎnhuí yuènán.

Tā shuō, tā hěn gāoxìng kàn dào gāi guó jìn jǐ shí niánlái de fǎ zhǎn.

Bǐ’ěr hā tè shuō:“Yóuyú hénèi de shìtài fāzhǎn, wǒ yǐwéi zìjǐ kàn cuòle diànyǐng, huòzhě diē rùle lìng yīgè shìjiè.” Bǐ’ěr hā tè huíyì qǐ tā 24 nián hòu yú 1999 nián shǒucì fǎnhuí yuènán de jīnglì.

Tā kànzhe hénèi wǔyánliùsè de lùdēng, kuàicān diàn hé xī xī bus de dàolù, xiǎng zhīdào yīgè guójiā rúhé kèfú guòqù bìng rúcǐ xùnsù de fāzhǎn.

“Wéiyī ràng wǒ gǎndào nánguò de shì hénèi de jiù chéngqū bù xiàng yǐqián nàyàng měilì.”

Zài 2019 nián, bǐ’ěr hā tè (Billhardt) kāishǐ zǔzhī yīcì yuènán zhī lǚ, yǐ cānguān tā zài zhànzhēng qíjiān qùguò dì dìfāng.

Dànshì bàomíng cānjiā lǚxíng tuán de rénshù rúcǐ zhī duō, yǐ zhìyú tā bùdé bùzài jiānglái jìhuà gèng duō de lǚxíng tuán yǐ mǎnzú xūqiú.

“Zài déguó, rúguǒ nín tánlùn yuènán, jiù tánlùn tuōmǎsī·bǐ hā tè (Thomas Billhardt),” déguó qián yuènán fǎlǜ zǒng gùwèn tè lán·ēn gé kè·kuí ēn (Tran Ngoc Quyen) shuō.

Jíshǐ bǐ’ěr hā dé (Billhardt) niánlíng yǐ dào, tā réng jìhuà jìxù wèi hépíng de yuènán pāishè gèng duō zhàopiàn, yǐ xiàng shìjiè zhǎnshì yuènán rénmín duōme yǒuhǎo, qínláo hé měilì.

“Tāmen dōu shì yīngxióng, shì nàxiē huózhe de rén hé nàxiē zài zhànzhēng zhōng sàngshēng de rén, shì nàxiē jìchéngle lǎo yīdài rén fùyǔ tāmen tuīdòng zhège guójiā qiánjìn de dàolù de rén.”

Bài tập luyện dịch tiếng Trung Giáo trình luyện tập dịch tiếng Trung Bài 7

Biên niên sử Hà Nội: khi hòa bình phơi bày nỗi kinh hoàng của chiến tranh

Sau lần đầu tiên đến thăm thủ đô ở đỉnh cao của Chiến tranh Việt Nam hơn 50 năm trước, Thomas Billhardt đã tiếp tục trở lại Hà Nội để ghi lại những thay đổi của nó.
Anh chọn làm điều đó không phải bằng những bức ảnh đồ họa về bạo lực, mà bằng cách chụp cuộc sống bình thường hàng ngày làm nổi bật những gì đang bị phá hủy.

Kể từ tháng 10 năm nay, nhiếp ảnh gia 83 tuổi người Đức đã nhận được rất nhiều cuộc gọi và tin nhắn từ Việt Nam, không thể tham dự một cuộc triển lãm đang diễn ra với 130 bức ảnh mà ông đã chụp ở Hà Nội trong Chiến tranh Việt Nam.

“Tôi rất buồn vì không thể có mặt ở Hà Nội lần này vì đại dịch, nhưng thành phố luôn ở trong trái tim tôi”, anh nói với VnExpress International từ Berlin, Đức.

Billhardt đã giành được sự công nhận trên toàn thế giới về công việc của mình vào cuối những năm 60 và đầu những năm 70 khi Chiến tranh Việt Nam đang ở đỉnh cao. Những bức ảnh của ông về cuộc sống hàng ngày giữa chiến tranh thật thấm thía.

Billhardt yêu nhiếp ảnh khi còn nhỏ, được nuôi dưỡng bởi một người mẹ là nhiếp ảnh gia. Ông tốt nghiệp Đại học Đồ họa và Thiết kế Sách ở Leipzig năm 1963. Khi ông thực hiện chuyến đi đầu tiên trong số 12 chuyến đi đến Hà Nội vào 4 năm sau đó, ông chưa bao giờ tưởng tượng rằng nó sẽ khai sinh ra một hiệp hội kéo dài hơn 5 thập kỷ.

Lần đầu tiên ông đến thủ đô cùng một nhóm làm phim từ Cộng hòa Dân chủ Đức (CHDC Đức) vào năm 1967 để quay một bộ phim tài liệu về những người lính Mỹ bị bắt tại Hà Nội giữa Chiến dịch Rolling Thunder khét tiếng, trận bom oanh tạc của Mỹ nhằm vào miền Bắc. của Việt Nam.

Anh nhớ rằng tại Metropole, khách sạn đẹp nhất trong thị trấn, “có nhiều chuột hơn cả khách và sâu trong nước của khách sạn.”

Chứng kiến sự tàn phá của chiến tranh, những hố bom, những công trình kiến trúc bị phá hủy, tiếng máy bay cường kích và tiếng còi kêu gọi mọi người đến núp bóng, ông xúc động kể lại câu chuyện về Hà Nội và con người Hà Nội bằng một “biên niên sử ảnh”.

“Tôi tức giận khi thấy người Mỹ tàn phá Hà Nội … Tôi muốn cho thế giới xem những bức ảnh tôi chụp ở Việt Nam để họ biết chính xác chuyện gì đang xảy ra. Khi đó họ sẽ hiểu và yêu Việt Nam, giống như tôi.”

Anh quyết định rằng bức ảnh thời chiến của mình sẽ tập trung vào những người đi về cuộc sống hàng ngày của họ, bận rộn làm việc và sẵn sàng chiến đấu cùng một lúc.

Những bức ảnh chụp đám đông đạp xe dưới trời mưa tầm tã, khuôn mặt hạnh phúc của những đứa trẻ chân trần tham gia một lớp học vẽ tranh ngoài trời, một sân vận động đầy người reo hò và cười khi xem một trận đấu bóng đá và nhiều cảnh yêu thương, chăm sóc tương phản mạnh mẽ và chống lại bạo lực tột độ của chiến tranh.

Billhardt nhớ lại: “Tôi cảm thấy có sự kết nối với những người Việt Nam khi nhìn vào mắt họ khi họ phải hứng chịu chiến tranh tàn khốc,” Billhardt nhớ lại và cho biết thêm bản lĩnh của người Việt Nam là một bài học cho ông.

“Những bức ảnh của Thomas vừa nêu lên một tấm gương phản chiếu thế giới, đồng thời mang đến hy vọng. Chúng kể về những bất bình đẳng xã hội trên thế giới, về nghèo đói, về đau khổ, về chiến tranh, nhưng cũng về cuộc sống và tiếng cười của những người sống trong đó ”, Wilfried Eckstein, Giám đốc Viện Goethe tại Hà Nội cho biết.

Nước chanh đá

“Tình yêu của tôi đối với Việt Nam không phải về nhà cửa hay đường xá, mà là về con người Việt Nam”, Billhardt, người đã thiết lập tình bạn với nhiều đối tượng của mình cho biết.

Tình yêu này đã thúc đẩy anh trở lại vào năm 1999, tìm kiếm những người được khắc họa trong các bức ảnh của anh và kiểm tra cuộc sống sau chiến tranh của họ. Ông đã tổ chức một cuộc triển lãm mở tại Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục, một địa điểm sầm uất ở quận Hoàn Kiếm, thường xuyên tổ chức nhiều lễ hội.

“Tôi muốn tổ chức một triển lãm ảnh ngay giữa trung tâm Hà Nội để có thể quan sát, ghi nhớ và cố gắng tìm kiếm mọi người”, anh nói.

Động lực chính của anh là tìm kiếm Hồng Ly, một nữ chiến sĩ trẻ mà anh đã chụp ảnh năm 1968 khi cô làm việc cùng một lữ đoàn sửa chữa những cây cầu bị phá hủy ở tỉnh Quảng Bình.

“Khi tôi hỏi cô ấy muốn gì, cô ấy nói với tôi rằng cô ấy khao khát chiến tranh kết thúc, để có thể trở về Hà Nội, gặp gỡ gia đình, đến những nơi yêu thích và uống một ly nước chanh đá.”

Việc tìm kiếm Hồng Ly dẫn đến việc gặp gỡ những người khác trong ảnh của anh, hoặc gia đình của họ.

Cảm động nhất trong cuộc gặp gỡ này là với gia đình của một cậu bé được chụp vào tháng 10 năm 1972.

Khi đó, Billhardt đang ở trong một khách sạn ở trung tâm Hà Nội thì một quả tên lửa phát nổ, giết chết hàng loạt người dân địa phương, trong đó có cậu bé.

Khi gia đình đưa thi thể của anh đến bệnh viện, Billhardt đã đi theo họ và chụp ảnh người bà đang khóc thương cháu mình.

“Tôi đã khóc khi chụp bức ảnh này. Tôi đã nói với cô ấy rằng cậu bé của cô ấy sẽ không chết một cách vô ích, tôi sẽ công khai nó trên toàn thế giới để mọi người biết chính xác cuộc chiến đang diễn ra ở Việt Nam”.

Billhardt đã giữ lời hứa và được một tạp chí nổi tiếng của Đức xuất bản bức ảnh vào năm 1974. Một người Việt Nam sống ở Đức đã nhìn thấy bức ảnh đó và gửi bức ảnh cho gia đình cậu bé ở Hà Nội. Họ không có ảnh nào khác của cậu bé.

27 năm sau khi bức ảnh được chụp, Billhardt đã tìm thấy cha của cậu bé và đến thăm ngôi nhà của ông trong Khu Phố Cổ, và nhìn thấy bức ảnh của ông ở đó.

Anh cũng tìm gặp Hồng Ly, người đã kết hôn với một người đàn ông Việt Nam và làm một bộ phim tài liệu về cuộc tìm kiếm cô.

‘Xem nhầm phim’

Billhardt cho biết ông khao khát được trở lại Việt Nam khi cuộc khủng hoảng Covid-19 kết thúc.

Ông cho biết ông rất hào hứng khi thấy đất nước đã phát triển như thế nào trong những thập kỷ gần đây.

“Tôi tưởng mình xem nhầm phim hoặc lạc vào một thế giới khác vì quá trình phát triển ở Hà Nội”, Billhardt nói, nhớ lại chuyến trở lại Việt Nam đầu tiên vào năm 1999 sau 24 năm.

Nhìn những ánh đèn đường rực rỡ, những quán ăn nhanh và những con đường nhộn nhịp ở Hà Nội, anh tự hỏi làm thế nào mà một đất nước lại có thể vượt qua quá khứ và phát triển nhanh chóng như vậy.

“Điều duy nhất khiến tôi cảm thấy tồi tệ là khu phố cổ Hà Nội không còn đẹp như xưa.”

Năm 2019, Billhardt bắt đầu tổ chức một chuyến du lịch đến Việt Nam để thăm những nơi mà ông đã từng đến trong chiến tranh.

Nhưng số lượng người đăng ký các tour quá đông nên anh phải lên kế hoạch nhiều chuyến hơn nữa trong thời gian tới để đáp ứng nhu cầu.

“Ở Đức, nếu nói đến Việt Nam là nói đến Thomas Billhardt”, bà Trần Ngọc Quyền, nguyên Tham tán Việt Nam tại Đức, nói.

Ngay cả ở độ tuổi của mình, Billhardt vẫn dự định sẽ tiếp tục chụp nhiều ảnh hơn nữa về một Việt Nam thanh bình để cho thế giới thấy rằng con người Việt Nam thân thiện, chăm chỉ và xinh đẹp như thế nào.

“Họ đều là những anh hùng, những người đang sống và những người đã chết trong chiến tranh, những người đã kế thừa những con đường mà các thế hệ đi trước đã cho họ để đưa đất nước này tiến lên.”

Vậy là hôm nội dung bài giảng hôm nay – Giáo trình luyện tập dịch tiếng Trung Bài 7 đến đây là hết rồi. Các bạn cần hỏi gì thêm thì đăng câu hỏi vào trong diễn đàn học tiếng Trung ChineMaster nhé.

0 responses on "Giáo trình luyện tập dịch tiếng Trung Bài 7"

    Leave a Message

    ChineMaster Cơ sở 1

    Số 1 Ngõ 48 Tô Vĩnh Diện, Phường Khương Trung, Quận Thanh Xuân, Hà Nội. (Ngã Tư Sở – Royal City, Ngã tư của Trường Chinh, Nguyễn Trãi, Đường Láng, Phố Tây Sơn)

    ChineMaster Cơ sở 2

    Số 5 Thành Thái, Phường 14, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn).

    ChineMaster Cơ sở 3

    Phường Láng Hạ, Quận Đống Đa, Hà Nội.

    ChineMaster Cơ sở 4

    Ngõ 17 Khương Hạ, Phường Khương Đình, Quận Thanh Xuân Hà Nội.

    ChineMaster Cơ sở 5

    Số 349 Vũ Tông Phan, Phường Khương Đình, Quận Thanh Xuân, Hà Nội.

    ChineMaster Cơ sở 6

    Số 72A Nguyễn Trãi, Phường Thượng Đình, Quận Thanh Xuân, Hà Nội. (Royal City)

    ChineMaster Cơ sở 7

    Số 168 Nguyễn Xiển, Phường Hạ Đình, Quận Thanh Xuân, Hà Nội.

    ChineMaster Cơ sở 8

    Ngõ 250 Nguyễn Xiển, Phường Hạ Đình, Quận Thanh Xuân, Hà Nội.